Công trình nước sinh hoạt nông thôn: Bao giờ đáp ứng được yêu cầu?

Thứ hai - 29/07/2019 08:41 28 0
 Những năm qua, các cấp, các ngành trong tỉnh luôn quan tâm đầu tư xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt phục vụ cho người dân khu vực nông thôn, tuy nhiên việc khai thác, sử dụng các công trình này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế.

 

Những kết quả quan trọng

Trước đây, cứ vào mùa khô, bà Sần Thị Phai, thôn Piềng Láo, xã Mường Hum (huyện Bát Xát) lại lo lắng tìm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ sinh hoạt của gia đình, mặc dù mỗi năm bà đều đầu tư một khoản tiền không nhỏ để lắp đường ống dẫn nước. Tuy nhiên, 2 năm gần đây, gia đình bà và hàng trăm hộ khác trong thôn không còn phải lo lắng về vấn đề này nữa vì thôn đã được Nhà nước đầu tư xây dựng công trình cấp nước hợp vệ sinh. Bà Phai tâm sự: Công trình cấp nước hợp vệ sinh mà huyện Bát Xát đầu tư đã giúp cho người dân trong thôn yên tâm về nguồn nước sinh hoạt. Nguồn nước được lấy từ đầu nguồn, có bể lắng nên rất trong và đảm bảo vệ sinh.

Một công trình cấp nước sinh hoạt ở xã Dìn Chin (Mường Khương) bị bỏ hoang.

Piềng Láo là một trong số hàng trăm thôn, bản trên địa bàn tỉnh được đầu tư công trình cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh trong năm 2018. Toàn tỉnh hiện có 1.042 công trình cấp nước tự chảy, phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho hàng nghìn hộ nông thôn, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Mục tiêu đến năm 2020, tỉnh có 95% dân số khu vực nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong số này lại có 50% được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn của Bộ Y tế.

Để đảm bảo được mục tiêu đề ra, những năm qua, tỉnh đã đầu tư nhiều công trình cấp nước sinh hoạt, bằng nhiều nguồn vốn như Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Chương trình 134, Chương trình 135; Chương trình 30a… Đây là những nguồn lực quan trọng giúp tỉnh phát triển hệ thống công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn. Giai đoạn 2010 - 2018, toàn tỉnh đã đầu tư nâng cấp, làm mới, sửa chữa hơn 450 công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn với tổng nguồn vốn 566 tỷ đồng. Hiện tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 90%, tăng gần 11% so với năm 2010, trong số này có 34% được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn của Bộ Y tế.

Quản lý và khai thác vẫn nhiều hạn chế

Tu Thượng là thôn cao nhất của xã Nậm Xé (huyện Văn Bàn) nên nước phục vụ sinh hoạt cho người dân nơi đây rất thiếu, đặc biệt là vào mùa khô. Trước thực trạng đó, thôn đã được huyện đầu tư 1 công trình nước hợp vệ sinh. Tuy nhiên, mới đưa vào sử dụng được một thời gian ngắn thì công trình đã hư hỏng, xuống cấp, không thể cung cấp nước cho người dân sử dụng. Ông Vàng A Tớ, Chủ tịch UBND xã Nậm Xé cho biết: Công trình ban đầu hoạt động rất hiệu quả, cung cấp nước cho hầu hết các hộ ở thôn Tu Thượng, song trong quá trình sử dụng, một số người đã tự ý cắt ống chính để đấu nối thêm các ống dẫn về gia đình khiến công trình nhanh chóng hư hỏng.

Các địa phương trong tỉnh đã có nhiều hình thức quản lý, khai thác các công trình cấp nước sinh hoạt, trong đó tổ hợp tác và cộng đồng quản lý vận hành 1.006 công trình, chiếm 96,5% và còn lại là các hợp tác xã, cá nhân nhận khoán, đơn vị sự nghiệp… Năm 2018, tỉnh đã cấp hơn 2,8 tỷ đồng hỗ trợ các huyện, thành phố sửa chữa các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn. Tuy nhiên, có 4/9 huyện (Si Ma Cai, Bát Xát, Bắc Hà, Văn Bàn) không phân khai kinh phí cho các xã; một số xã đã được huyện phân khai kinh phí nhưng không phân khai chi tiết cho từng công trình; một số công trình đươc phân bổ kinh phí nhưng chưa lập kế hoạch sửa chữa. Bên cạnh đó, rất ít công trình thu được tiền sử dụng nước theo quy định nên không có kinh phí bảo dưỡng thường xuyên, khiến số lượng công trình hư hỏng, xuống cấp ngày càng nhiều.

Nhiều công trình cấp nước cho người dân vùng cao bị hư hỏng.

Hiện có 164 công trình cấp nước sinh hoạt không hoạt động, chiếm 15,8%; 243 công trình cấp nước sinh hoạt hoạt động kém hiệu quả, chiếm 23,3%. Tính trong năm 2018, toàn tỉnh chỉ có 153 công trình thu được tiền nước với mức thu 500 - 1.500 đồng/m3 (thấp hơn nhiều so với giá quy định là 2.000 - 3.000 đồng/m3), tổng số tiền thu được chỉ là 2,2 tỷ đồng.

Giải pháp khắc phục

Ông Nguyễn Quang Ngọc, Chi cục Trưởng Chi cục Thủy lợi, Giám đốc Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh cho biết: Nguyên nhân khiến việc thu tiền nước và quản lý, sử dụng các công trình nước sinh hoạt nông thôn kém hiệu quả là chịu ảnh hưởng nhiều từ thiên tai; bộ máy quản lý công trình ở cấp cơ sở còn mỏng, kiêm nhiệm và thiếu chuyên môn; một số tổ chức quản lý công trình cấp nước được thành lập hình thức, không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả. Bên cạnh đó, mức độ quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền một số địa phương chưa cao, chưa coi công trình cấp nước sinh hoạt là tài sản của địa phương. Cũng có một số chủ đầu tư chỉ quan tâm đến xây dựng công trình, chưa quan tâm tới việc hướng dẫn sử dụng, quản lý sau đầu tư. Nhiều người dân còn thói quen sử dụng nước không mất tiền, trông chờ, ỷ lại vào hỗ trợ của Nhà nước…

Để sử dụng hiệu quả các công trình cấp nước sinh hoạt cho người dân nông thôn, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, các cấp, các ngành, địa phương cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về nước sạch, nước hợp vệ sinh. Cần giao một số công trình cấp nước cho các tổ chức, cá nhân để thực hiện việc đấu thầu trực tiếp quản lý, khai thác. Cấp huyện cần chủ động hơn nữa trong việc sử dụng ngân sách sửa chữa những công trình bị hư hỏng, đôn đốc việc thu tiền sử dụng nước. Những công trình hư hỏng nhỏ thì cần được sửa chữa ngay, tránh để thành hư hỏng lớn. Quan tâm đào tạo công nhân kỹ thuật, thợ có tay nghề về thủy lợi, cấp nước cho cấp xã, thôn nhằm nâng cao chất lượng các tổ, đội quản lý công trình cấp nước sinh hoạt. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với công tác đầu tư xây dựng và quản lý, khai thác công trình cấp nước sinh hoạt. Các địa phương cần thống nhất kế hoạch đầu tư hằng năm với cơ quan quản lý chuyên ngành các cấp để thuận lợi trong việc chỉ đạo, điều hành chung... Có như thế, nguồn lực đầu tư của Nhà nước mới mang lại hiệu quả, người dân mới có nguồn nước sạch, nước hợp vệ sinh để phục vụ sinh hoạt, nâng cao chất lượng cuộc sống.

TẤT ĐẠT

Nguồn tin: Báo Lào cai

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

 Văn Bản

72/2013/NĐ-CP

Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng

Thời gian đăng: 11/08/2017

lượt xem: 295 | lượt tải:63

24/2011/TT-BTTTT

Thông tư số 24/2011/TT-BTTTT ngày 20/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về việc tạo lập, sử dụng và lưu trữ dữ liệu đặc tả trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước

Thời gian đăng: 11/08/2017

lượt xem: 278 | lượt tải:57

2132/BTTTT-VNCERT

Văn bản số 2132/BTTTT-VNCERT, ngày 18/7/2011, của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc hướng dẫn bảo đảm an toàn thông tin cho các cổng/trang thông tin điện tử

Thời gian đăng: 11/08/2017

lượt xem: 255 | lượt tải:64

19/2011/TT-BTTTT

Thông tư số 19/2011/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông : Quy định về áp dụng tiêu chuẩn định dạng tài liệu mở trong cơ quan nhà nước

Thời gian đăng: 11/08/2017

lượt xem: 228 | lượt tải:61

43/2011/NĐ-CP

Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ Quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan Nhà nước

Thời gian đăng: 11/08/2017

lượt xem: 264 | lượt tải:70
Liên kết web hữu ích

 

 

 

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây