Kết hợp kinh tế với quốc phòng, tạo lập thế trận phòng thủ vững chắc bảo vệ chủ quyền biển, đảo

Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, có 28 tỉnh thành phố ven biển Đông. Cùng với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vùng biển Việt Nam còn có hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ, nhiều đảo có nhân dân sinh sống, các vùng biển và thềm lục địa rộng lớn, chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng tạo thành vùng đặc quyền kinh tế rộng gấp 3 lần diện tích đất liền. Nơi đây đang là tiêu điểm của những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ hết sức phức tạp và nhạy cảm… Bởi vậy, phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng.

 

Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ: “Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh, quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế của vùng biển và ven biển, kết hợp với an ninh, quốc phòng, tạo thế và lực để phát triển mạnh kinh tế - xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc”(1). Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 22/9/1997 của Bộ Chính trị (khóa VIII) yêu cầu: “Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; đặc biệt là “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta. Những năm qua, kế hoạch phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh, đặc biệt là trên các địa bàn trọng điểm tuyến ven biển, trên các vùng biển, hải đảo, các cụm công nghiệp, các khu kinh tế quốc phòng (KTQP), làng nghề được triển khai đã góp phần làm thay đổi sâu sắc bộ mặt kinh tế - xã hội của cả nước và tạo nên thế trận phòng thủ trên các vùng biển, đảo góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.

Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, những năm qua, đặc biệt là từ năm 2016 đến nay, toàn Đảng, toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân đã nỗ lực phấn đấu, tạo bước chuyển biến quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Đảng ta nhấn mạnh: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo”(2). Trong đó, một số nội dung được nhấn mạnh như những giải pháp tích cực để gắn phát triển kinh tế với bảo vệ chủ quyền biển, đảo như tăng cường công tác quy hoạch; xây dựng kết cấu hạ tầng; xây dựng các vùng biển, đảo ở địa bàn chiến lược đều phải gắn kết chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện “quân với dân một ý chí”; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội... “Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế và quốc phòng, an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược”(3).

Trong những năm gần đây, cùng với đẩy mạnh quá trình đổi mới sắp xếp lại các doanh nghiệp KTQP và mở cửa hội nhập, các lĩnh vực kinh tế biển gắn với quốc phòng, an ninh thường xuyên được tăng cường và có bước chuyển biến tích cực. Các khu KTQP có sự thay đổi về cơ cấu ngành nghề theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xuất hiện nhiều ngành kinh tế gắn với công nghệ - kỹ thuật hiện đại như khai thác dầu khí, công nghiệp đóng tàu đánh bắt xa bờ, vận tải biển, du lịch biển - đảo và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn... Việc khai thác nguồn lợi từ biển đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước, nhất là cho xuất khẩu (dầu khí, hải sản...). Theo ước tính, tỷ trọng các ngành kinh tế biển và liên quan đến tuyến ven biển chiếm 48% GDP cả nước. Kinh tế biển đã được các cấp, các ngành, nhất là những tỉnh ven biển chú ý. Qua đó, kết hợp kinh tế với quốc phòng đã được triển khai và làm được nhiều hơn (hoạch định biên giới trên biển, ban hành khung luật pháp, phát triển các hải đảo gắn với củng cố quốc phòng - an ninh trên tuyến biển đảo ngày càng được tăng cường). Tuy nhiên, việc thực hiện mục tiêu chiến lược biển đang đứng trước nhiều thách thức gay gắt về phát triển kinh tế biển như khai thác tài nguyên và môi trường biển; sự suy giảm các nguồn lợi thủy sản, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển; ô nhiễm môi trường… và một số thách thức về quốc phòng, an ninh đòi hỏi phải có những quyết sách mới.

Về kinh tế biển, nhìn chung, quy mô còn nhỏ bé và đang ở trình độ thấp, chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế biển của đất nước. So với các nước trên thế giới và khu vực thì Việt Nam còn chậm phát triển về nhiều mặt; giá trị thu được từ hoạt động kinh tế biển đều ở mức thấp hoặc rất thấp. Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình “đẩy mạnh phát triển kinh tế với quốc phòng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” nhưng nghề biển nước ta vẫn chủ yếu là nghề truyền thống, chiếm trên 60% GDP do kinh tế biển tạo ra. Các nghề mới như khai thác dầu khí, công nghiệp đóng tàu, nuôi trồng hải sản, du lịch biển chỉ mới bước đầu phát triển. Các nghề biển công nghệ cao như năng lượng sóng thủy triều, khai thác khoáng sản dưới lòng nước sâu, hóa chất và dược liệu biển... hầu như chưa được tập trung nghiên cứu. Còn nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng và kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng trên các vùng biển, đảo do công nghệ, kỹ thuật, vốn đầu tư,… nhìn tổng thể vẫn còn ở trình độ rất thấp. Các công trình kỹ thuật và dịch vụ xây dựng hạ tầng các khu KTQP còn nhiều bất cập, yếu kém. Tình trạng đó đang đặt ra nhu cầu cấp bách phải có một chiến lược phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng với những luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn vững chắc để đáp ứng nhiệm vụ quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh quốc gia trên biển.

Để thực hiện tốt việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, trước hết phải xác định lợi thế, tiềm năng của các vùng, ngành kinh tế, tập trung chỉ đạo đầu tư đúng hướng, tạo sự gắn kết, hỗ trợ thúc đẩy các vùng, doanh nghiệp KTQP phát triển nhanh và bền vững, đi đôi với tăng cường quốc phòng, an ninh, tạo lập thế trận phòng thủ vững chắc trên từng địa bàn và trên toàn tuyến biển, đảo. Cần tập trung thực hiện tốt một số định hướng cơ bản sau:

Một là, thực hiện quy hoạch thống nhất kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh trên các vùng biển, đảo và tuyến biển gần bờ.

Bộ Quốc phòng cần chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất việc kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng để tạo nên sức mạnh, chống lãng phí ngân sách nhà nước và công sức của dân. Không có quy hoạch thống nhất dễ dẫn đến tình trạng đã có quy hoạch, kế hoạch mà triển khai chậm hoặc xây dựng dự án thiếu tính khoa học, hợp lý, có nơi dự án trùng lên dự án, có nơi lại không có dự án nào; hoặc đã hình thành dự án nhưng chưa có kinh phí nên chưa thực hiện được,v.v... Nếu để tình trạng “dự án treo” hoặc “bỏ lửng”, nửa vời sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả và tính khả thi của dự án và làm giảm lòng tin của nhân dân đối với chính quyền và bộ đội ở các khu KTQP, kẻ xấu có thể lợi dụng để xuyên tạc đường lối, chính sách, làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước. Vì vậy, cần triển khai thực hiện quy hoạch thống nhất ở vùng dự án, kể cả dự án tổng thể kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng; xây dựng các khu KTQP vững mạnh. Trên cơ sở quy hoạch tổng thể, cần triển khai thực hiện nghiêm túc, mang lại hiệu quả thiết thực, tạo niềm tin cho nhân dân vào sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là cách tốt nhất để xây dựng “thế trận lòng dân”, tăng cường quốc phòng, an ninh, quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Hai là, ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế biển, thực hiện có hiệu quả chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh trên các vùng ven biển, hải đảo.

 Biển Việt Nam chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn về kinh tế. Để khai thác, sử dụng hiệu quả và biến các tiềm năng thành nguồn lực, động lực đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng, Nhà nước và các địa phương, đơn vị cần tập trung đầu tư nguồn lực thích đáng cho các doanh nghiệp kinh tế mũi nhọn, có thế mạnh ở các vùng ven biển, trên các đảo và quần đảo như: khai thác, chế biến dầu khí; hệ thống cảng và dịch vụ vận tải biển; khai thác, chế biến hải sản, du lịch... Trong đó, ưu tiên xây dựng các trung tâm dịch vụ, thành lập các tập đoàn kinh tế mạnh có đủ khả năng vươn xa, kết hợp phát triển kinh tế với làm chủ biển, đảo; tập trung nguồn vốn, khoa học, công nghệ, nguồn lao động để khai thác có hiệu quả các tiềm năng của biển; ưu tiên phát triển hạ tầng cơ sở kinh tế với quốc phòng - an ninh trên các địa bàn chiến lược và các đảo lớn xa bờ, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất của nhân dân đang sinh sống trên các đảo và quần đảo.

Quá trình thu hút nguồn lực để phát triển KTQP đòi hỏi các ngành chức năng và địa phương phối hợp nghiên cứu, khảo sát tổng thể, xác định rõ tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng khu vực, đánh giá đúng, đủ các yếu tố tự nhiên cũng như xu thế phát triển. Việc quy hoạch phải tính đến sự kế thừa, phát triển, tính liên kết giữa các vùng và các khu vực; phải gắn bờ, biển, đảo và quần đảo trong một không gian sinh tồn về kinh tế với quốc phòng. Vì vậy, nếu không khảo sát đầy đủ, đánh giá một cách khoa học thì kết quả sẽ thấp, thậm chí không mang lại hiệu quả mà còn phá vỡ tính cân bằng trong quá trình kết hợp kinh tế với quốc phòng trên các vùng biển, đảo. 

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh, thúc đẩy nhanh quá trình dân sự hóa trên biển với xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững mạnh, đủ khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.

 Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, thúc đẩy nhanh quá trình dân sự hóa trên biển là cơ sở để khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên trên biển, là tiền đề để xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng tại chỗ phục vụ chiến lược quốc phòng, an ninh trên biển. Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 khẳng định: “Thực hiện quá trình dân sự hóa trên biển, đảo gắn với tổ chức dân cư, tổ chức sản xuất và khai thác biển. Có chính sách đặc biệt để khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra định cư ổn định và làm ăn dài ngày trên biển; thí điểm xây dựng các khu KTQP tại các đảo, quần đảo Trường Sa, vùng biển, đảo của Tổ quốc”(4). Đây là một chủ trương chiến lược có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước. Chủ trương này đã và đang được hiện thực hóa, đáp ứng yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam trên biển. 

Trong thời gian qua, công tác dân sự hóa trên các vùng biển, đảo, nhất là ở những vùng biển, đảo chiến lược đã được đẩy mạnh, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để củng cố và xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển. Ở một số đảo có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, quá trình dân sự hóa bước đầu được thực hiện có hiệu quả, tạo được dư luận tốt đối với quần chúng nhân dân trong và ngoài nước. Cơ sở hạ tầng trên nhiều đảo ở Trường Sa được xây dựng ngày càng khang trang; đời sống của nhân dân từng bước đi vào ổn định, nhân dân hoàn toàn tin tưởng vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. 

Cùng với quá trình dân sự hóa ở các vùng biển, đảo, việc bảo vệ chủ quyền biển đảo và duy trì lợi ích quốc gia trên biển hiện nay cần kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh. Việc quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực ven biển, trên biển và các đảo phải tuân thủ các yêu cầu đặt ra trong kế hoạch tổng thể của khu vực phòng thủ địa phương, phải mang tính hệ thống, bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa biển, đảo với đất liền; kết hợp chặt chẽ giữa thế trận “tĩnh” của đảo và bờ với thế “động” của lực lượng tác chiến cơ động trên biển tạo nên thế trận liên hoàn, vững chắc. 

Bốn là, trang thiết bị kỹ thuật - hậu cần phục vụ cho kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh phải phù hợp với điều kiện cụ thể tại địa bàn các vùng biển, đảo.

Đây là vấn đề rất quan trọng trong công tác bảo đảm cho hệ thống các cụm lực lượng trên biển, thực hiện kiểm soát, giám sát, báo động, chi viện, hỗ trợ nhau trong đấu tranh phòng chống các hoạt động xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia. Các cơ sở hậu cần, kỹ thuật kinh tế - xã hội ven bờ, trên biển và trên các đảo phải sẵn sàng huy động cho nhiệm vụ quốc phòng, ưu tiên xây dựng các đảo tiền tiêu xa bờ có công sự kiên cố, trang bị hỏa lực mạnh, có khả năng tác chiến dài ngày. Quá trình thiết kế, xây dựng hạ tầng cơ sở trên biển, đảo phải mang tính lưỡng dụng cao, không chỉ bền vững trước tác động của môi trường biển mà còn phải bền vững khi chuyển sang phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Xây dựng lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư đủ mạnh để bảo vệ việc khai thác, đánh bắt hải sản của ngư dân trên biển, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn trên biển; đồng thời kiểm tra, giám sát, phát hiện, ngăn chặn các hành động xâm phạm chủ quyền trên biển, khai thác hải sản trái phép của nước ngoài trên vùng biển của Việt Nam. Các địa phương ven biển, huyện đảo phải có lực lượng dân quân, tự vệ vừa tham gia sản xuất, khai thác hải sản, vừa làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự trên biển, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành động xâm phạm lợi ích, chủ quyền quốc gia.

Năm là, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở các huyện đảo đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Hệ thống chính trị ở các huyện đảo, nhất là những huyện đảo xa bờ - vừa là “cầu nối” đưa chủ trương, chính sách của Đảng đến với quần chúng, vừa là chủ thể trực tiếp tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các chủ trương của Đảng trên các địa bàn biển, đảo. Vì vậy, xây dựng hệ thống chính trị ở các huyện đảo vững mạnh là một giải pháp quan trọng để củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên các vùng biển, đảo đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Hoàn thiện hệ thống chính trị với các thiết chế đầy đủ, cơ cấu hợp lý và cơ chế hoạt động hiệu quả, phù hợp với điều kiện hoạt động đặc thù trên các địa bàn biển, đảo. Phát huy vai trò và chức năng hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là tổ chức đảng; thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với các huyện đảo xa bờ và các địa bàn trọng điểm, chiến lược; coi trọng giải quyết tốt mối quan hệ và sự phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở mỗi huyện đảo và giữa các huyện đảo với nhau, tạo ra thế trận liên hoàn trên biển để có thể nhanh chóng tập hợp và sử dụng hiệu quả sức mạnh của các lực lượng tại chỗ phục vụ cho quốc phòng, an ninh trên biển.

Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ trọng yếu và là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng và cao cả đó, hơn lúc nào hết cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, toàn vẹn vùng biển, đảo nói riêng và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc nói chung, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới./.

Thượng tướng Trần Đơn - Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
 
----------------------
 
Ghi chú:
 
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb CTQG, H. 1996, tr.211.
 
(2),(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb CTQG-ST, H. 2016, tr.149, tr.149.
 
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư (khóa X), Nxb, CTQG, H. 2007, tr.85.
 
Nguồn: http://tcnn.vn

Tra cứu tài liệu online

Đang online

Đang có 29 khách và không thành viên đang online

Thống kê truy cập

Số lần xem các bài viết
1189722

THƯ VIỆN TỈNH LÀO CAI
Địa chỉ: Nhà Văn hóa tỉnh Lào Cai - Đại lộ Trần Hưng Đạo - Phường Bắc Lệnh - Thành phố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Văn Hạnh - Giám đốc thư viện tỉnh Lào Cai Điện thoại: 0203 668 665 - Email: phamhanhtvlc@gmail.com
Hoạt động theo Giấy phép số 41/GP - TTĐT của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình & Thông tin điện tử ngày 15/4/2013
.