Vai trò của mặt trận ngoại giao trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968

 

Giai đoạn 1967 - 1968 là thời kỳ đặc biệt trong cuộc kháng chiến thống nhất đất nước của dân tộc ta. Trong cuộc kháng chiến này, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân ta đã phát huy trí tuệ, kế thừa truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha ông, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ đi đến Ðại thắng mùa Xuân 1975, thu non sông về một mối. Trong mỗi giai đoạn của cuộc kháng chiến, đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao luôn song hành, phối hợp nhịp nhàng, tạo thành sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc.

Việc đặc biệt chú trọng vai trò của đấu tranh ngoại giao trong những thời khắc quyết định của cuộc kháng chiến, trong đó Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968; đặt Mặt trận ngoại giao dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và T.Ư Ðảng, đã phối hợp chặt chẽ và tạo thế cho tiến công quân sự, đồng thời, phát huy thắng lợi trên chiến trường để đạt những thắng lợi lớn hơn có ý nghĩa chiến lược.

Tạo thế ngoại giao đi vào Tổng tiến công

Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 diễn ra trong bối cảnh cuộc kháng chiến ngày càng diễn biến quyết liệt. Việc leo thang chiến tranh tại Việt Nam, ném bom đánh phá miền bắc, tàn phá và gây rất nhiều tổn thất cho thường dân, đã khiến nhân dân tiến bộ thế giới ngày càng quan ngại. Nhiều nước, nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới đã yêu cầu chấm dứt chiến tranh, kêu gọi các bên liên quan đi vào đàm phán tìm giải pháp chính trị, ngoại giao. Tổng Thư ký Liên hợp quốc, Thủ tướng Ca-na-đa, Tổng thống Pháp… bày tỏ sẵn sàng làm trung gian hòa giải, đề nghị tôn trọng độc lập, thống nhất của Việt Nam, sớm đi vào thương lượng hòa bình. Trong bối cảnh đó, Mỹ đã tiến hành một đợt vận động ngoại giao lớn chưa từng có, với việc cử đặc phái viên đi thuyết phục hơn 40 nước, gửi thư cho nguyên thủ quốc gia của hơn 100 quốc gia và nhiều động thái khác nhằm biện minh cho cuộc chiến.

Trước tình hình trên, Hội nghị T.Ư lần thứ 13 (tháng 1-1967) nhất trí đẩy mạnh các đấu tranh ngoại giao, chỉ rõ đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền nam là nhân tố quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Về nhiệm vụ cụ thể, mặt trận ngoại giao có nhiệm vụ đề cao lập trường bốn điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và tuyên bố năm điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của các nước anh em, bạn bè yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ.

Triển khai chỉ đạo đó của T.Ư, ngày 28-1-1967 Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh trong trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài đã tuyên bố "…Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và các hành động chiến tranh khác chống lại miền bắc Việt Nam. Chỉ sau khi Mỹ thực hiện điều này thì VNDCCH và Mỹ có thể nói chuyện". Việc VNDCCH chủ động nêu khả năng đàm phán hòa bình là một chiến lược ngoại giao đúng đắn và đúng thời điểm, được đông đảo nhân dân dư luận quốc tế ủng hộ. Việc ta gắn thương lượng với việc đế quốc Mỹ chấm dứt ném bom miền bắc cũng làm đậm thêm tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh của nhân dân ta và làm nổi bật hành động vi phạm chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia độc lập có chủ quyền, được quốc tế công nhận tại Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Các nước XHCN phần lớn các nước Không liên kết, các phong trào hòa bình, thậm chí một số nước phương Tây (Na Uy, Thụy Ðiển…) đều lên tiếng mạnh mẽ, tạo sức ép quốc tế rất lớn cho Mỹ - ngụy yêu cầu phải có giải pháp kết thúc chiến tranh.

Mặt trận ngoại giao qua đó đã góp phần giúp quân và dân ta bước vào Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 trong sự ủng hộ của quốc tế cũng như thế chủ động về chiến lược trên chiến trường.

Sức mạnh cộng hưởng cho thắng lợi trên chiến trường

Một yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 chính là mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết rộng rãi và ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Trong giai đoạn 1967-1968, ta liên tục triển khai các mũi tiến công ngoại giao để tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Tính chính nghĩa trong cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã đặt nền tảng quan trọng giúp tranh thủ được tình cảm của nhân dân tiến bộ trên thế giới. Sự chủ động của ta trong vận động và đấu tranh đối ngoại giúp làn sóng quốc tế ủng hộ Việt Nam ngày càng dâng cao. Nhiều đoàn lãnh đạo cấp cao của VNDCCH, của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam đã đi nhiều nước trên thế giới, tiếp xúc với lãnh đạo và nhiều tầng lớp để làm rõ tính chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Hàng nghìn cuộc mít-tinh, biểu tình, tuần hành "Vì Việt Nam" đã diễn ra tại nhiều thủ đô lớn trên thế giới.

Tranh thủ sự ủng hộ ngay trong lòng nước Mỹ, thông qua các phong trào phản chiến của chính nhân dân Mỹ, cũng là một nhiệm vụ quan trọng của mặt trận đối ngoại giai đoạn này. Các đề xuất đàm phán, tính chính nghĩa và thái độ tích cực của VNDCCH, cũng như những thắng lợi liên tiếp trên chiến trường, nhất là tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế… đặt dấu chấm hết cho những ảo tưởng về "chiến thắng" của đế quốc Mỹ tại Việt Nam, khiến phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ dâng cao hơn bao giờ hết. Ta cũng khéo léo triển khai các biện pháp như mời một số nhà báo, phóng viên Mỹ vào miền bắc để tận mắt chứng kiến và đưa tin trung thực, khách quan về sự tàn phá khủng khiếp của bom đạn đối với dân thường Việt Nam. Ngày càng có nhiều nghị sĩ Mỹ đòi chính quyền Mỹ chấm dứt ngay chiến tranh tại Việt Nam và đi vào thương lượng thực chất. Khai thác mâu thuẫn nội bộ Mỹ, ngoại giao ta đã phát huy được thế chính nghĩa, thế thắng của nhân dân ta, đóng góp quyết định trong việc hình thành mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết, ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ, thật sự kết hợp tốt sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Ðã có ý kiến nhận xét rất xác đáng rằng, Mỹ đã thua không chỉ ở Việt Nam mà thua ngay tại nước Mỹ.

Mặt trận ngoại giao cũng đã thành công trong việc tranh thủ sự ủng hộ mạnh mẽ và sự giúp đỡ chí tình của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, giúp ta tiếp tục duy trì, đẩy mạnh sự ủng hộ to lớn của Liên Xô (trước đây), Trung Quốc, cả về tinh thần và vật chất, nhất là trong giai đoạn ta đang tập trung nhân lực, vật lực cho tổng tiến công.

Góp phần củng cố thắng lợi trên chiến trường

Thắng lợi của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 còn là kết quả của sự kết hợp tài tình mang tính chiến lược giữa thắng lợi trên chiến trường và mặt trận ngoại giao.

Thứ nhất, mặt trận ngoại giao đã nắm bắt kịp thời, hiệu quả thắng lợi chiến lược của đợt một Tổng tiến công để buộc đế quốc Mỹ đi vào đàm phán trên cơ sở có lợi cho ta. Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn ngày 31-3-1968 phải tuyên bố đơn phương ngừng ném bom khu vực bắc vĩ tuyến 20, "sẵn sàng tiến tới hòa bình thông qua thương lượng" và sẽ cử đại diện Mỹ đến bất cứ nơi đâu, vào bất cứ lúc nào. Tuyên bố này của Giôn-xơn chính là sự thừa nhận thất bại trong leo thang chiến tranh ở miền bắc và "chiến tranh cục bộ" ở miền nam, đồng thời cũng là kết quả của quá trình đấu tranh ngoại giao vừa mềm dẻo nhưng hết sức cương quyết trong việc buộc Mỹ đi vào đàm phán theo những điều kiện có lợi cho ta. Mặc dù đề nghị của Mỹ chưa đáp ứng yêu cầu hoàn toàn chấm dứt ném bom miền bắc, nhưng ta đã quyết định nắm lấy cơ hội mở ra đàm phán trực tiếp với Mỹ để kiềm chế, kéo Mỹ vừa đàm vừa xuống thang chiến tranh; đồng thời giương cao ngọn cờ chính nghĩa, thiện chí đàm phán, tranh thủ dư luận và bạn bè quốc tế, trước mắt là hỗ trợ các đợt tiếp theo của Tổng tiến công và nổi dậy, chia lửa với chiến trường. Ngày 3-4-1968, Chính phủ VNDCCH tuyên bố "sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước VNDCCH để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện". Ta tiếp tục tiến công về ngoại giao, yêu cầu Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom miền bắc, chứ không chỉ ngừng phía bắc vĩ tuyến 20, đồng thời phối hợp quân và dân ta trên chiến trường để bắt đầu hình thành cục diện đánh - đàm.

Thứ hai, ngoại giao đã tạo sức ép quốc tế đối với Mỹ, nêu cao chính nghĩa để tranh thủ ủng hộ quốc tế về Tổng tiến công. Từ tháng 5-1968, ta chính thức mở đàm phán với Mỹ tại Pa-ri, nơi có sự hiện diện đông đảo của giới ngoại giao và báo chí quốc tế để có thể khuếch trương thắng lợi và tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Suốt thời gian diễn ra đợt Tổng tiến công thứ hai và thứ ba, tại bàn đàm phán, ta kiên quyết đấu tranh với Mỹ về việc tăng cường chiến tranh ở miền nam, yêu cầu Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom không điều kiện miền bắc và kiên quyết bác bỏ các đề xuất về quân sự.

Thứ ba, mặt trận ngoại giao đã phát huy thành quả trên chiến trường để buộc Mỹ chính thức xuống thang chiến tranh, công nhận địa vị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc để tiến tới ký kết Hiệp định Pa-ri lịch sử tháng 1-1973. Ðến ngày 1-11-1968, Mỹ đã tuyên bố chấp nhận dừng ném bom toàn miền bắc, chấp nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam tham gia đàm phán bốn bên. Việc ta quyết định chấp nhận đàm phán bốn bên đồng thời vẫn duy trì kênh đàm phán trực tiếp VNDCCH - Mỹ đã góp phần "trói chân" Mỹ vào đàm phán Pa-ri, phát huy thành quả to lớn của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ðiều đó càng có ý nghĩa trong bối cảnh chính quyền Ních-xơn mới thắng cử sẽ có điều chỉnh chiến lược đối với chiến tranh tại Việt Nam, song không thể từ bỏ đàm phán. Việc ta buộc Mỹ chấp nhận vai trò của Mặt trận cũng góp phần phân hóa Mỹ - ngụy do chính quyền Nguyễn Văn Thiệu kiên quyết chống Mặt trận tham gia đàm phán, khiến chính quyền ngụy hết sức lo ngại về tương lai của chính mình do điều đó mở ra khả năng có một giải pháp chính trị cho miền nam mà ngụy quyền không phải là lực lượng duy nhất.

Một số bài học lâu dài

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã trôi qua tròn nửa thế kỷ, song những bài học thành công của Tổng tiến công luôn có giá trị thời sự sâu sắc thể hiện trên các mặt:

Thứ nhất, thắng lợi của quân dân ta trong Tổng tiến công và trong đấu tranh ngoại giao năm 1968 trước tiên xuất phát từ sự chỉ đạo, lãnh đạo sáng suốt và trực tiếp của lãnh đạo Ðảng, Nhà nước. Việc chuẩn bị thế trận đối ngoại, lập kế hoạch, phát huy kết quả thắng lợi của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân đều được T.Ư Ðảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo trực tiếp chỉ đạo, triển khai trong từng giai đoạn.

Thứ hai, thắng lợi của quân dân ta năm 1968 cho thấy giá trị lâu dài của việc kết hợp nhuần nhuyễn thế trận quân sự, quốc phòng của đất nước với mặt trận ngoại giao. Mặt trận ngoại giao đã góp phần giữ vững thành quả trên chiến trường bằng những cam kết công khai của đối phương, khuếch trương thắng lợi và tranh thủ sự ủng hộ to lớn về vật chất và tinh thần của bạn bè quốc tế. Ðồng thời, ngoại giao cũng trực tiếp đóng góp cho chiến thắng và chi viện cho chiến trường.

Thứ ba, Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân và đàm phán Pa-ri trong năm 1968 cũng cho thấy tầm quan trọng của việc nhạy bén theo dõi, đánh giá, nhận định tình hình thế giới, khu vực cũng như tương quan lực lượng của ta. Thắng lợi của nhân dân ta cho thấy đánh giá đúng tình hình, đưa ra phương hướng sách lược chính xác sẽ giúp tranh thủ tối đa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, bảo đảm được lợi ích tối cao của quốc gia và dân tộc.

Với những bài học đó, thắng lợi của quân dân ta trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 có ý nghĩa chiến lược và giá trị thời sự sâu sắc. Mặt trận ngoại giao đã góp phần phát huy thắng lợi của Tổng tiến công, mở ra đàm phán Pa-ri kéo dài suốt năm năm, từ đó tạo tiền đề để nhân dân ta giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Những bài học của kết hợp đấu tranh ngoại giao và đấu tranh quân sự trong Tổng tiến công cho tới nay vẫn phát huy giá trị to lớn, góp vào hành trang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

PHẠM BÌNH MINH

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao

Nguồn: http://nhandan.com.vn/

Tra cứu tài liệu online

Đang online

Đang có 36 khách và không thành viên đang online

Thống kê truy cập

Số lần xem các bài viết
1167541

THƯ VIỆN TỈNH LÀO CAI
Địa chỉ: Nhà Văn hóa tỉnh Lào Cai - Đại lộ Trần Hưng Đạo - Phường Bắc Lệnh - Thành phố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Văn Hạnh - Giám đốc thư viện tỉnh Lào Cai Điện thoại: 0203 668 665 - Email: phamhanhtvlc@gmail.com
Hoạt động theo Giấy phép số 41/GP - TTĐT của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình & Thông tin điện tử ngày 15/4/2013
.