80 năm độc lập: Hạnh phúc của người dân - Thước đo thành công của Chính phủ

Thứ hai - 01/09/2025 02:48 173 0

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Sau khoảnh khắc thiêng liêng ấy, Người đã khẳng định một chân lý sâu sắc hơn, một sứ mệnh lớn lao cho chính thể non trẻ: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

80 năm qua, lời căn dặn ấy vẫn là kim chỉ nam cho mọi chính sách của Nhà nước. Từ những ngày đầu gian khó, đối mặt với một đất nước kiệt quệ, dân đói, dân nghèo và thất học, Chính phủ mới đã hành động quyết liệt. Chỉ trong 1 năm, bằng sự đồng lòng và các chính sách đột phá, nạn đói đã bị đẩy lùi, chương trình xóa mù chữ được khởi động, khơi dậy niềm tin cho hàng triệu người. Đó chính là minh chứng đầu tiên cho quyết tâm thực hiện lý tưởng: độc lập phải gắn liền với hạnh phúc của nhân dân.

Từ xóa đói giảm nghèo đến an sinh toàn diện: Một hành trình bền bỉ

Trải qua nhiều thập niên chiến tranh và tái thiết, mục tiêu chăm lo đời sống nhân dân luôn được đặt lên hàng đầu. Công cuộc Đổi mới năm 1986 đã mở ra một thời kỳ phát triển mới, nơi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giúp hàng chục triệu người thoát nghèo và nâng cao mức sống toàn dân. Các báo cáo của Ngân hàng Thế giới đã nhiều lần khẳng định Việt Nam là “một trong những câu chuyện thành công nhất về giảm nghèo toàn cầu”. Từ tỷ lệ hộ nghèo trên 70% vào đầu thập niên 1990, đến nay chỉ còn dưới 3%.

Không chỉ dừng lại ở việc xóa đói giảm nghèo, Nhà nước đã và đang mở rộng một mạng lưới an sinh xã hội toàn diện hơn. Điển hình là chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên toàn quốc trong hơn 5 năm qua. Kết quả đã có hơn 400.000 căn nhà tạm được thay thế bằng nhà ở kiên cố, mang lại cuộc sống nhân văn hơn cho hàng triệu người. Đây không chỉ là chính sách xã hội, mà còn là biểu tượng của một Chính phủ hành động vì dân.

Từ nỗ lực diệt giặc đói, giặc dốt trong những năm đầu lập nước đến cuộc Đổi mới năm 1986 và giờ đây là những chính sách miễn học phí, mở rộng bảo hiểm y tế - tất cả đều hướng đến một mục tiêu xuyên suốt: nâng cao hạnh phúc của nhân dân.

Những chính sách này chính là nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng, nơi hạnh phúc của mỗi cá nhân được Nhà nước bảo chứng. Đầu tư vào phúc lợi chính là đầu tư vào nguồn nhân lực – yếu tố quyết định sự thịnh vượng của quốc gia.

Ý nghĩa chiến lược của chính sách an sinh

Chính sách phúc lợi không chỉ là giải pháp kinh tế-xã hội mà còn là “hợp đồng niềm tin” giữa Nhà nước và nhân dân, nền tảng cho sự ổn định và phát triển. Khi người dân được bảo đảm chỗ ở, học hành, y tế, họ sẽ an tâm lao động, sáng tạo, cống hiến. Đầu tư vào phúc lợi chính là đầu tư vào nguồn nhân lực, yếu tố quyết định sự hưng thịnh của quốc gia.

Không chỉ giải quyết cái trước mắt, chương trình xóa đói giảm nghèo, xóa nhà tạm, miễn học phí, viện phí còn có ý nghĩa chiến lược: nó tạo nên niềm tin giữa dân với Đảng, Chính phủ. Trong một thế giới đầy biến động, niềm tin xã hội là sức mạnh gắn kết quốc gia, là “nguồn vốn chính trị” vô giá giúp đất nước vượt qua thử thách.

Kinh nghiệm quốc tế và con đường của Việt Nam

Trên thế giới, nhiều quốc gia thành công nhờ lấy phúc lợi xã hội làm trụ cột.

Các nước Bắc Âu (Thụy Điển, Na Uy) nổi tiếng với mô hình “Nhà nước phúc lợi”, nơi y tế và giáo dục miễn phí. Dù bối cảnh kinh tế khác biệt, đây vẫn là một hình mẫu giá trị về mạng lưới an sinh toàn diện mà Việt Nam đang hướng tới theo cách riêng của mình.

Singapore là ví dụ điển hình về chính sách nhà ở xã hội. Thông qua Cơ quan Phát triển Nhà ở (HDB), hơn 80% dân số nước này được sống trong các căn hộ khang trang, giá cả hợp lý. Mô hình này gợi mở cho Việt Nam hướng đi về phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn để giải quyết vấn đề đô thị hóa và nâng cao chất lượng sống.

Hoa Kỳ, dù vẫn còn nhiều tranh cãi, các chương trình "Medicare" và "Medicaid" vẫn là trụ cột an sinh. Cuộc tranh luận về “Medicare for All” tại đây cho thấy nỗ lực mở rộng phúc lợi y tế là một thách thức lớn ngay cả ở các nước phát triển. Điều này càng cho thấy Việt Nam đang đi đúng hướng khi chủ động mở rộng bảo hiểm y tế từ sớm để đảm bảo công bằng.

Rõ ràng, Việt Nam không đơn độc mà đang đi trong xu thế chung của nhân loại: xây dựng Nhà nước phúc lợi lấy con người làm trung tâm với các giải pháp sáng tạo, phù hợp điều kiện trong nước.

Những thách thức cần vượt qua một cách minh bạch và hiệu quả

Dù đạt được nhiều thành tựu, con đường phía trước vẫn còn không ít thách thức.

Nguồn lực và sự bền vững: Ngân sách quốc gia còn hạn hẹp trong khi nhu cầu an sinh ngày càng lớn. Việc thực hiện các chính sách miễn phí quy mô lớn đòi hỏi một nền kinh tế vững mạnh và các mô hình tài chính bền vững để tránh tạo gánh nặng cho tương lai.

Chất lượng dịch vụ công: Đây là thách thức lớn nhất. Miễn học phí chỉ thực sự ý nghĩa nếu chất lượng giáo dục, chương trình giảng dạy và đội ngũ giáo viên không ngừng được nâng cao. Tương tự, miễn viện phí sẽ chỉ là hình thức nếu hệ thống y tế không đảm bảo được thuốc men, trang thiết bị hiện đại và đội ngũ y bác sĩ tận tâm.

Hiệu quả thực thi và phòng chống tiêu cực: Nguy cơ thất thoát, trục lợi chính sách, hay tình trạng “xin-cho” trong quá trình thực hiện có thể làm xói mòn hiệu quả và gây mất niềm tin xã hội.

Để vượt qua những thách thức này, song song với mở rộng phúc lợi, Chính phủ cần đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản trị, và xây dựng một đội ngũ công chức thực sự phục vụ nhân dân với tinh thần trách nhiệm cao nhất.

Kết luận: Hạnh phúc của dân – Thước đo thành công cao nhất

80 năm nhìn lại, hành trình từ ngày độc lập đã chứng minh một chân lý: mục tiêu tối thượng của mọi chính sách là hạnh phúc của nhân dân. Độc lập không chỉ là một danh từ trên lá cờ, mà phải hiện hữu trong từng bữa cơm no, mái nhà vững chãi, và niềm an tâm của người dân khi ốm đau.

Chăm lo cho nhân dân không phải là sự ban phát, mà là trách nhiệm thiêng liêng của Nhà nước đối với những người đã làm nên độc lập và đang kiến tạo tương lai. Sau 80 năm, Chính phủ đã và đang chứng minh rằng hạnh phúc của nhân dân không chỉ là mục tiêu, mà còn là lý do tồn tại của Nhà nước.

Tiến sĩ Tô Văn Trường, Nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch miền nam

Nguồn tin: baolaocai.vn/80-nam-doc-lap-hanh-phuc-cua-nguoi-dan-thuoc-do-thanh-cong-cua-chinh-phu-post880944.html

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

 Văn Bản

16/2023/TT-BVHTTDl

Thông tư ban hành quy định tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng, định mức kinh tế kỹ thuật và hướng dẫn triển khai thực hiện

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 1193 | lượt tải:315

16/2023/TT-BVHTTDL

Thông tư 16/2023/TT-BVHTTDL

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 1195 | lượt tải:304

25/2023/NQ-HĐND

Nghị quyết số 25/2023/NQ-HĐND Bổ sung điểm c khoản 2 Điều 9 của quy định về các loại phí

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 1285 | lượt tải:360

07/2023/TT-BVHTTDL

Thông tư 07/2023/TT-BVHTTDL

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 1057 | lượt tải:304

1346/QĐ-BVHTTDL

Bộ VHTTDL Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình “Đẩy mạnh các hoạt động phục vụ học tập suốt đời trong thư viện, bảo tàng, trung tâm văn hóa đến năm 2030”

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 1469 | lượt tải:739

830QĐ-BVHTTDL

Quyết định số 830/QĐ-BVHTTDL về việc ban hành Chương trình bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành Thư viện

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 1074 | lượt tải:843

03/2023/TT-BVHTTDL

Thông tư quy định tiêu chuẩn, điều kiện thi hoặc xét thăng hạng; hình thức, nội dung và xác định người trúng tuyển trong kỳ xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành thư viện, di sản văn hóa, văn hóa cơ sở, tuyên truyền viên văn hóa, ngh

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 1304 | lượt tải:0

3815/QĐ-BVHTTDL

Quyết định Ban hành Quy tắc ứng xử nghề nghiệp của người làm công tác thư viện

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 657 | lượt tải:0

05/2022/TT-BVHTTDL

Thông tư số 05/2022/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Hướng dẫn hoạt động thư viện lưu động và luân chuyển tài nguyên thông tin

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 926 | lượt tải:0

2114/QĐ-BVHTTDL

Ban hành Quy định về tiêu chí, tiêu chuẩn, nội dung, quy trình và định mức kinh tế-kỹ thuật trong hoạt động hỗ trợ, tư vấn về chuyên môn, nghiệp vụ thư viện và dịch vụ hỗ trợ học tập, nghiên cứu

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 920 | lượt tải:1512

206/QĐ-TTg

Quyết định số 206/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt "Chương trình chuyển đổi số ngành thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030"

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 991 | lượt tải:0

93/2020/NĐ-CP

Nghị định 93/2020 - Quy định chi tiết một số điều của Luật Thư viện

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 2202 | lượt tải:492

46/2019/QH14

Luật số 46/2019/QH14 của Quốc hội: Luật Thư viện

Thời gian đăng: 24/05/2026

lượt xem: 707 | lượt tải:0
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây