Bảo Thắng giảm nghèo nhanh và bền vững

Thứ năm - 25/10/2018 23:32 876 0

 Thời gian qua, Bảo Thắng trở thành huyện có tốc độ giảm nghèo nhanh và tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất so với các huyện trong tỉnh.

 
Cán bộ lao động - thương binh và xã hội xã Phố Lu (ngoài cùng bên phải) cùng anh Trần Công Điền tham quan mô hình trồng cây ăn quả.
Cán bộ lao động - thương binh và xã hội xã Phố Lu (ngoài cùng bên phải) cùng anh Trần Công Điền tham quan mô hình trồng cây ăn quả.

 

Anh Trần Công Điền, sinh năm 1975 ở thôn An Thành là một điển hình của xã Phố Lu về giảm nghèo nhanh và bền vững. Cách đây mấy năm, gia đình anh thuộc diện hộ nghèo. Điều đó chỉ chấm dứt khi gia đình xây dựng thành công mô hình kinh tế tổng hợp, trọng tâm là chăn nuôi và trồng cây ăn quả. Dẫn chúng tôi thăm vườn bưởi Múc, ổi lai và táo ngọt cao quá đầu người đang kỳ sinh trưởng tốt nhất nhờ trồng trên đất bãi phù sa ven sông Hồng màu mỡ, anh Điền chia sẻ rằng chính anh cũng không ngờ chưa đến 3 năm, cây trái trong vườn nhà lại tốt đến vậy.

Khu vườn cây ăn quả của gia đình anh hiện có 200 cây bưởi Múc, hơn 100 cây ổi và gần 100 cây táo đã cho thu hoạch từ năm 2017. Trong khi chờ vườn cây ăn quả khép tán, anh Điền tranh thủ nuôi gà thả vườn với số lượng duy trì từ 500 đến 600 con, nuôi cá và quay vòng trồng 3 vụ gồm lúa - rau - dưa lê, dưa hấu trên 3 sào đất ruộng. “Quá nửa đời người chung thủy với cây lúa mà có những lúc không đủ ăn, nghèo vẫn hoàn nghèo. Giờ thì với 3 sào ruộng, mỗi vụ dưa cũng thu được 3 tấn quả kèm theo 1 vụ rau, lao động vất vả hơn nhưng thoát nghèo cũng nhanh” - anh Điền tâm sự.

Năm 2017, thu nhập từ mô hình kinh tế tổng hợp của gia đình anh đạt xấp xỉ 100 triệu đồng. Con số này sẽ tăng nhanh khi vườn cây ăn quả đến năm cho thu hoạch.

Đối với huyện Bảo Thắng, việc giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 28,64% (năm 2015) xuống còn 10,48% (tháng 9/2018) là một thành công lớn. Nhờ con số này mà 6 xã của huyện “về đích” trong Chương trình xây dựng nông thôn mới (Sơn Hải, Sơn Hà, Phú Nhuận, Xuân Giao, Xuân Quang, Phong Niên) và đều có tỷ lệ hộ nghèo dưới 10%, ước vào cuối năm 2018 sẽ ở mức trung bình là 6%. Số thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn giảm từ 104 xuống còn 94 thôn và có 1 trong số 5 xã thoát khỏi danh sách xã đặc biệt khó khăn. Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2018, trong hơn 2 năm qua, huyện Bảo Thắng đã dành hàng trăm tỷ đồng đầu tư cho công tác giảm nghèo bền vững, trong đó một phần đáng kể là huy động từ nguồn ngân sách địa phương và xã hội hóa. Cùng với giảm tỷ lệ hộ nghèo, thu nhập bình quân của người dân Bảo Thắng cũng được nâng lên: Năm 2015 là 22,8 triệu đồng, đến nay tăng lên 34,9 triệu đồng/người/năm.Không chỉ gia đình anh Điền, phong trào sản xuất tại xã Phố Lu trở nên sôi nổi hơn trong những năm gần đây nhờ các chương trình, chính sách hỗ trợ giảm nghèo bền vững. Cuối năm 2015, xã Phố Lu còn 143 hộ nghèo trong tổng số 403 hộ toàn xã (tương đương 35,48%). 2 năm sau (2016 và 2017), xã có 49 hộ thoát nghèo, đồng nghĩa với tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 23,33%. Dự kiến đến cuối năm 2018 sẽ có thêm 42 hộ thoát nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo của xã xuống mức 12,29%. Bà Phạm Thu Phương, cán bộ lao động - thương binh và xã hội xã Phố Lu cho biết, để giảm nghèo bền vững, trong thời gian qua, địa phương đã triển khai quyết liệt hàng loạt chính sách giảm nghèo bền vững nhằm vào đối tượng thụ hưởng là hộ nghèo, hộ cận nghèo. Đó là chính sách miễn, giảm học phí với học sinh thuộc hộ nghèo; chính sách hỗ trợ bảo hiểm y tế, khám - chữa bệnh cho người nghèo; chính sách hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ tiền điện; hỗ trợ sản xuất và tiếp cận các dịch vụ như nước sinh hoạt hợp vệ sinh; hỗ trợ xây dựng nhà ở; đào tạo và giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện hộ nghèo. Để phát huy các nguồn lực, xã Phố Lu tăng cường nắm bắt, lấy ý kiến của người dân để việc triển khai các chương trình phù hợp với thực tế và nhu cầu thiết thực của người dân. Ví dụ như việc hỗ trợ sản xuất trong thời gian vừa qua là cấp hàng nghìn con gà giống siêu trứng lai Ai Cập cho 40 hộ nghèo, hoặc hỗ trợ đất sản xuất, hỗ trợ lãi suất nguồn tín dụng ưu đãi.

Bà Dương Thị Tâm, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Bảo Thắng cho biết: Thời gian qua, các chương trình, chính sách hỗ trợ giảm nghèo được triển khai đúng trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với thực tế của địa phương nên phát huy hiệu quả tích cực. Có 13 chính sách liên quan đến công tác giảm nghèo bền vững được đồng thời triển khai, trong đó một số chính sách đầu tư nguồn lực trực tiếp cho hộ nghèo như hỗ trợ tiền điện, hỗ trợ cải thiện nhà ở, hỗ trợ sản xuất (giống cây, con), hỗ trợ lãi suất vốn vay, chuyển giao khoa học - kỹ thuật và công nghệ... Bên cạnh đó, các chương trình, chính sách gián tiếp cũng hỗ trợ tích cực cho sản xuất và đời sống của các hộ vùng nông thôn nói chung và hộ nghèo nói riêng như Chương trình 135, chính sách về cán bộ cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, chính sách về đào tạo, giải quyết việc làm...

Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh đã phản ánh sự khởi sắc trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện Bảo Thắng thời gian qua. Đó cũng là tiền đề nền móng để huyện sớm hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới tại 12/12 xã và trở thành huyện phát triển trọng điểm của tỉnh vào năm 2020.

CAO CƯỜNG

Nguồn tin: Báo Lào cai

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

 Văn Bản

16/2023/TT-BVHTTDl

Thông tư ban hành quy định tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng, định mức kinh tế kỹ thuật và hướng dẫn triển khai thực hiện

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 1133 | lượt tải:288

16/2023/TT-BVHTTDL

Thông tư 16/2023/TT-BVHTTDL

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 1105 | lượt tải:285

25/2023/NQ-HĐND

Nghị quyết số 25/2023/NQ-HĐND Bổ sung điểm c khoản 2 Điều 9 của quy định về các loại phí

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 1216 | lượt tải:337

07/2023/TT-BVHTTDL

Thông tư 07/2023/TT-BVHTTDL

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 987 | lượt tải:279

1346/QĐ-BVHTTDL

Bộ VHTTDL Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình “Đẩy mạnh các hoạt động phục vụ học tập suốt đời trong thư viện, bảo tàng, trung tâm văn hóa đến năm 2030”

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 1361 | lượt tải:712

830QĐ-BVHTTDL

Quyết định số 830/QĐ-BVHTTDL về việc ban hành Chương trình bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành Thư viện

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 1026 | lượt tải:768

03/2023/TT-BVHTTDL

Thông tư quy định tiêu chuẩn, điều kiện thi hoặc xét thăng hạng; hình thức, nội dung và xác định người trúng tuyển trong kỳ xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành thư viện, di sản văn hóa, văn hóa cơ sở, tuyên truyền viên văn hóa, ngh

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 1207 | lượt tải:0

3815/QĐ-BVHTTDL

Quyết định Ban hành Quy tắc ứng xử nghề nghiệp của người làm công tác thư viện

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 583 | lượt tải:0

05/2022/TT-BVHTTDL

Thông tư số 05/2022/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Hướng dẫn hoạt động thư viện lưu động và luân chuyển tài nguyên thông tin

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 795 | lượt tải:0

2114/QĐ-BVHTTDL

Ban hành Quy định về tiêu chí, tiêu chuẩn, nội dung, quy trình và định mức kinh tế-kỹ thuật trong hoạt động hỗ trợ, tư vấn về chuyên môn, nghiệp vụ thư viện và dịch vụ hỗ trợ học tập, nghiên cứu

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 871 | lượt tải:1472

206/QĐ-TTg

Quyết định số 206/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt "Chương trình chuyển đổi số ngành thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030"

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 875 | lượt tải:0

93/2020/NĐ-CP

Nghị định 93/2020 - Quy định chi tiết một số điều của Luật Thư viện

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 2097 | lượt tải:492

46/2019/QH14

Luật số 46/2019/QH14 của Quốc hội: Luật Thư viện

Thời gian đăng: 16/04/2026

lượt xem: 640 | lượt tải:0
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây